Home / Truyện ngắn – Cho tôi xin một nửa cuộc đời

Truyện ngắn – Cho tôi xin một nửa cuộc đời

Tôi thích thả mình trên chiếc xuồng trôi dọc con sông nhỏ, trôi miền miệt về nơi nào đó xa xăm, không bến đậu, có khi thèm con nước, cứ thả đời dọc dài theo mấy nhánh lục bình xanh mướt, miên man những mùa gió cuốn.

Tôi thích thả trôi mình từ hồi vừa cắt dây rốn đỏ hỏn, tôi được bỏ vào một cái thùng nhựa và thả dài thườn thượt trên con sông mà tôi thường phiêu mình trên đó. Hồi nhỏ, tụi trong xóm hay goi tôi bằng những câu đùa cợt như “thằng trôi sông”, “đứa con lụm” hay đơn thuần chỉ là thằng Thả – cái tên mà cậu mợ đã đặt cho tôi.

Nhiều lúc buồn quá, tôi hỏi mợ “con có má phải không mợ?”, “má con đi làm xa, con lớn lên má rước con phải không mợ?”… Những câu hỏi thế này làm mợ rối và có khi xoa đầu ậm ừ đồng ý. Để một hôm bực quá mợ thét toáng lên “Cái thằng trôi sông vô tích sự”.

Cuộc sống của tôi yên bình cho đên cái ngày cậu cặp kè với đứa con gái của chú Tư đang ở đợ cho cậu, cậu hay nhờ tôi đứng canh trước cửa đợi mợ cập xuồng vào bến là la lên “mợ về, mợ về”, con Xuyến lùa qua cửa sổ rồi ngồi lọt thỏm xuống cái ghế cây ở bếp. Cũng ngày hôm ấy, mợ rời bến đi thu tiền của bà Sáu vay lâu nay chưa trả, anh Tánh con cậu mợ cũng đi theo, tay vác cái liềm dài sắc nổi hết cả da gà. Cậu ở nhà cho tôi gói mì sống, nhai ngấu nghiến nhàu nát cả một buổi chiều.
Hình ảnh

Bóng chiều thấp thoáng bờ dừa, xối dội những hạt long lanh rơi từ nhành dừa xuống ruộng, tôi thấy màu trời đẹp ghê gớm, cái tuổi mười tám hờ hững với những nỗi đau, hờ hững với những cám dỗ, ngây ngô như thằng nhóc lên mười, đời nhạt nhòa, đơn thuần bên cái lò gạch. Tôi nhớ hồi nhỏ ghê gớm, chắp vá những ký ức về một người mẹ ảo tưởng mà mợ thường kể tôi nghe, đẹp, bỏ đi vì một tình yêu nào đó. Chỉ vậy thôi!

Chiều hôm ấy, tôi miên man với những nhành dừa, thả hồn mình với những con sóng lăn tăn trên mặt ruộng, nhìn về một cánh diều, xa xăm, không điểm đặt. Mợ về đến cửa, tôi tái mét, quăng ngang gói mì mà cậu cho xuống ruộng, chạy vào căn buồng.

Mặt mợ đỏ rặng như một đốm lửa, cậu đang ôm xấp con Xuyến, trơ trụi, trần tục, xé toan những yên bình của đám ruộng trước nhà. Mợ lôi con Xuyến ra, nắm búi tóc của nó lê lết trên nền gạch. Con nhỏ xơ xác, tờ mờ như một buổi chiều, mợ dí mặt nó vào lò gạch nung nóng.
Với tôi, lò gạch gắn liền với nhiều kỷ niệm, những ký ức mơ hồ của tuổi trẻ nhạt thếch, không biết chữ và luôn nghĩ về một người mẹ ảo tưởng. Tuổi trẻ của những khuôn gạch vàng ươm nhộm một màu buồn khắc đều cả một góc trời, nóng rang, rát rạt. Bên con sông đìu hiu, là một bờ hạnh phúc, trôi sạch những miền ký ức, xoa dịu cái nóng dã man bên cái lò gạch! Con sông, hạnh phúc duy nhất của tôi.

Khi con Xuyến thét lên trong đau đớn, tôi mới nhận ra rằng tôi tồn tại vì một điều gì đó mà tôi chưa định hình được, nhưng không phải như một con thú, dại khờ làm theo những gì nó được dạy. Tôi nhào đến như điên dại, đạp mạnh mợ văng ra, má trái của con Xuyến bị phỏng, rướm máu đỏ hoe. Tôi chửi “người chứ phải con chó mà đối xử với nhau như vậy”.

Tôi thương con Xuyến từ hồi nó được dọn tới đây, lúc đó tôi chừng mười tuổi, nó hơn tôi một tuổi, nhìn mặt non èo, tía má nó bán nó cho cậu mợ để làm công, tôi biết nó buồn lắm, nhưng nó không thể hiện ra mặt, mà cười rồi lủi thủi dưới bếp gần cả chục năm trời. Trong nhà chỉ có nó là chịu nói chuyện với tôi, có chuyện gì buồn, vui chưa bao giờ nó giấu, cho đến một ngày, nó ôm chầm tôi và khóc…

Mợ la hét, chửi bới tục tĩu, người ta tụ tập lại càng lúc càng đông, chỉ trỏ vô mặt của con nhỏ đang bươm máu và rát, thằng con trai của mợ vác ra cây liềm định chém phặt vào mặt con Xuyến, tôi kéo nó ra, đi phăng ngón tay út…
Ngón tay út tôi rớt xuống, co víu lại dưới nền đất rồi loang máu, ân tình, nghĩa tình, và cả nợ đều được trả hết – tôi nghĩ thế. Tôi nắm tay của con Xuyến rồi chạy thẳng về phía ruộng… sợ có ai đó đuổi theo, chạy mãi, chạy mãi!
Tôi nhổ một ít cỏ lào, nhai ngấu nghiến rồi đắp vào mặt của con Xuyến, nó rát, thét lên, rồi ngất đi mất. Tôi nhìn lại bàn tay của mình, máu vẫn chảy, đau điếng, xé cái áo xám xịt loang màu của mình, cột chặt và cố quên cái đau…

Một nửa khuôn mặt của con Xuyến hiện lên trái tim tôi một cảm giác thật lạ, nó thanh khiết và ô đục lẫn lộn nhau, đôi môi hồng và giọt nước mắt rơi đều trên mắt, rớt vô hồn đến thế là cùng. Tôi dựng một gian lều nhỏ bên cạnh một bờ sông, đủ để che nắng và đánh lừa một vài hạt mưa không rơi xuống. Hỏi thăm bà con quanh đây được cái chợ, tôi lấy mấy đồng cắc lẻ trong túi để mua thuốc và sữa cho nó, nó bất tỉnh, khuôn mặt có liền lại mớ da non, nhưng đỏ ươm máu…
Ngày thứ năm thì nó tỉnh dậy, nó mở mắt chằm chằm nhìn lên mái hiên, nơi có một vài cành dừa khô bắt chéo rọi nắng vào mắt nó, chắc nó đau lắm. Nó lặng im như những cơn gợn sóng, chỉ lăn vài giọt nước mắt để đời biết rằng nó còn có thể sống, hoặc ít nhất cũng để tôi biết rằng, đừng vác nó đi chôn! Chân tóc nó vẫn còn ri rỉ máu, một mảng tóc ở đầu mất đi, nhìn nó như một con ma, thảm hại của sự thảm hại.

Buổi sáng hôm đó tôi đi khuân vác cho một tiệm trái cây đằng xa, mua được vài quả quýt và ít thuốc sức liền sẹo, nó ngồi đưa đẩy bàn chân trên con sông trước lều, cười tươi rói như chưa bao giờ có một quá khứ tồn tại đau đớn đến thế. Nó biểu “vì tui mà anh mất ngón tay, anh tiếc không anh Thả?”, tôi cười hững hờ nói lại “Có gì mà tiếc, bộ không nghe mợ nói hả, tui là thằng trôi sông thôi à, có đáng gì đâu”…

Trong cái ánh nắng mặt trời len lỏi qua những vết thương, cố gắng làm liền chúng lại, dù biết rằng vết sẹo sẽ vẫn mãi hằn sâu vào đấy, vào trong trái tim một vệt nhơ, khó lòng chùi sạch…

Đêm trăng hôm đó, Xuyến hỏi tôi về một tình yêu, về sự tự do, về giấc mơ được làm cô giáo, và về sự hi sinh cho ước mơ của mình. Câu trả lời chỉ nhẹ nhàng như ánh trăng, cười tha thiết, thấy đời nhỏ xíu, lềnh đềnh! Đôi chân ai đẩy đưa những con sóng, rồi nằm dọc ra soi những ánh trăng, ôm chầm lấy tôi tha thiết. Và ngày hôm đó, ý nghĩa của một tình yêu được ôm trọn lấy tôi, đời có rực rỡ hơn, có chút buồn hơn, có chút hạnh phúc, một vài ý nghĩa, và rồi cái yêu thương nắm chặt lấy bàn tay của Xuyến, ghì nhẹ! Cắn chặt một bờ môi!

Sáng sớm hôm đó, tiếng chim hót bỗng dưng có ý nghĩa, tiếng gió xào xạc xuyên qua hàng tre lơ mơ bỗng lãng mạn lạ thường, mây trôi nhanh hiền hòa, nắng hôn môi em, mệt nhoài một đêm hạnh phúc. Tôi mặc vội chiếc áo khoác xờn xợt đi làm khuân vác cho một tiệm trái cây gần chợ, đầu óc bay bổng những hạnh phúc sứt mẻ, chắp vá, về một tương lai khác biệt.
Tôi sẽ mua cho Xuyến một mảnh vải lụa, một vài viên thuốc liền sẹo ở tiệm thuốc ngoài chợ Đông, một hủ kem phấn. Tôi sẽ trở về vào chiều, con cá tôi đặt lờ sẽ được kho vàng ươm, mớ rau lang sau lều được luộc lên tươi rói, bữa cơm ngon và đầy tình yêu. Chúng tôi cũng có những đứa con, nuôi nấng và dạy dỗ chúng nên người, mặc cho sự thật chúng là con của ai, mặc cho khó khăn đến mức nào, tôi cũng chịu được. Chúng sẽ được học ở trường học chợ Đông, nó gọi tôi bằng ba và con Xuyến bằng má… hạnh phúc hiền hòa.

Chiều đó tôi về lang thang những ký ức và miên man những niềm vui, đôi dép và chiếc áo bà ba xờn xạc màu xám của Xuyến để gọn gàng bên bờ sông, trôi đều những hạnh phúc, không bến bờ! Lạc lõng. Mảnh lụa của tôi bị cơn gió cuốn trôi đi, lướt dài qua cơn gió rồi nằm mượt mà trên dòng sông, bỗng thấy mất một cái gì đó lớn lao lắm.
Ý nghĩa về một tình yêu cứ bám víu lấy đầu óc của thằng con trai mười tám, cảm xúc hụt hẫng và niềm vui của ngày hôm qua cấu xé trái tim. Tôi thả mình theo con nước lớn, trôi về phía nguồn, cội nguồn của yêu thương. Tôi cứ trôi mãi như thế, như niềm hạnh phúc kiếm tìm ở đâu đó xa xa, đợi đến một lúc nào đó có ai ôm chầm lấy tôi và kêu lên “Anh Thả”.

Nguyễn Phước Huy

(ST)